베트남 이야기

훈민정음 해례본 베트남어역

참 좋은생각 2012. 4. 24. 15:21

Câu chuyện tiếng Hàn

Lời nói đầu


   Cuốn sách này là cuối sách giới thiệu về chữ viết tiếng Hàn do vua Se-Jong đại đế sáng tạo ra. Sách tập trung vào phân tích, giải thích nội dung cuốn sách 『Huấn dân chính âm』, cuốn giáo trình tiếng Hàn đầu tiên của người Hàn Quốc. Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm tới tiếng Hàn nói riêng và ngôn ngữ nói chung. 

  

  Với những ai học tiếng Hàn, đặc biệt là người Việt Nam, với thực trạng số lượng giáo trình tiếng Hàn còn rất hạn chế thì cuốn sách này phần nào sẽ là một trong những giáo trình cơ bản nhất giúp bạn học tiếng Hàn. Tuy vậy đây không phải là giáo trình học tiếng Hàn được xây dựng theo lý thuyết ngôn ngữ phương Tây giống các giáo trình khác. Nó là cuốn sách giúp bạn tiếp cận với tiếng Hàn theo đúng nguyên lý mà vua Se-Jong đại đế đã hướng dẫn khi người và các học giả sáng tạo ra bảng chữ cái HanGul. Các nhà ngôn ngữ học có thể tìm thấy một lý thuyết ngôn ngữ khá thú vị ở đây - lý thuyết ngôn ngữ dựa vào các khái niệm âm-dương, ngũ hành...trong "Dịch học". Đối với người quan tâm tới "Dịch học" thì đây cũng là một "ví dụ" vận dụng thành thục lý thuyết "Dịch" trong nó.

   

   Cũng bởi trong 『Huấn dân chính âm』có những nội dung mang tính chất triết học Dịch, lại được viết dưới dạng chữ Hán nên đây sẽ là một khó khăn cho người đọc.  Bên cạnh đó, trong quá trình cùng làm việc và trao đổi, chúng tôi đã thảo luận, cố gắng chọn ra những cách giải thích các khái niệm trong "Dịch học" một cách đơn giản và dễ hình dung nhất nhằm truyền tải các nội dung và cảm nhận đến người đọc. Tuy vậy chắc chắn không thể tránh khỏi sai sót. Mong nhận được sự phản hồi từ phía bạn đọc.

Đồng tác giả, Hà Nội thánh 6 năm 2006.



1. Mở đầu câu chuyện

   

   Việc học tiếng của một nước không phải chỉ đơn thuần là học ngôn ngữ đó. Trong ngôn ngữ có chứa văn hóa, tinh thần của một dân tộc, chứa cả các yếu tố triết học, thế giới quan, nhân sinh quan của những con người nói ngôn ngữ đó. Ngôn ngữ là phương tiện biểu đạt tư duy. Con người suy nghĩ thế nào thì nói như vậy nên có thể nói ngôn ngữ chính là một di sản văn hóa tinh thần được truyền từ đời này qua đời khác.  


   Tiếng Hàn cũng vậy. Tiếng Hàn không chỉ đơn thuần là tiếng nói của người Hàn mà nó còn là "di vật" chứa đựng cả tinh thần của dân tộc Hàn. Học tiếng Hàn không chỉ là học cách giao tiếp với người Hàn mà còn là học cách tiếp cận và tìm hiểu văn hóa Hàn.


   Các ngôn ngữ phương Tây và phương Đông được hình thành theo các cách khác nhau. Trong khi các ngôn ngữ phương Tây thiên về việc "gọi tên" sự tồn tại của sự vật thì các ngôn ngữ phương Đông lại không vậy. Người phương Đông nghĩ rằng ngôn ngữ không thể biểu đạt hay thể hiện được sự vật. Nếu giải thích rõ hơn thì người phương Tây đầu tiên sẽ tạo ra giới hạn và đặt ngôn ngữ cùng với tư duy vào với nhau. Còn người phương Đông thì không hề tạo ra hạn định hay giới hạn. Chính vì vậy mà phương Tây cho cái vượt khỏi giới hạn ấy là lĩnh vực hay phạm vi của thần thánh và luôn tranh luận về phạm vi tồn tại của thần thánh. Theo đó, họ luôn có xu hướng thiên về phân tích để đi tới tổng hợp. Ngược lại, người phương Đông lại cho rằng việc định ra một giới hạn là việc làm vô nghĩa. Và như vậy họ luôn hướng vào việc tìm kiếm sự tổng hợp trong cách tư duy vô hạn định. Và phần lớn cách tư duy của người phương Đông là phân tích một cách cặn kẽ và tỉ mỉ để đi tới một sự tổng hợp mới cao hơn. Chính vì vậy mà người phương Đông quan niện thần thánh và con người không hề có những "lãnh thổ" riêng. Thần thánh có thể cùng chung sống với con người và cũng hoạt động như con người.

   Sự khác nhau trong tư duy người phương Đông và phương Tây được thể hiện ra trong ngôn ngữ. Nhưng ngày nay, phần lớn các lý thuyết về ngôn ngữ lại do người phương Tây xây dựng nên. Và có một hiện thực là các ngôn ngữ phương Đông cũng áp đặt các lý thuyết về ngôn ngữ của phương Tây làm khung chuẩn cho mình. Chính vì vậy mà luôn luôn có sự "trệch khớp" trong việc dùng  lý thuyết phương Tây vào phân tích ngôn ngữ phương Đông. Hay nói cách khác, lý thuyết về ngôn ngữ của phương Tây không giải quyết hết được các vấn đề trong ngôn ngữ phương Đông. Tiếng Hàn cũng là một trường hợp như vậy. Các giáo trình được xây dựng cho việc học tiếng Hàn về cơ bản cũng dựa vào tiêu chuẩn lý thuyết ngôn ngữ của phương Tây. Chính vì vậy mà việc học chủ yếu dựa vào học thuộc chứ không phải là hiểu ngôn ngữ đó. Điều này là một khó khăn cho người học tiếng. 


   Cuốn『Huấn dân chính âm』có thể được coi là cuốn giáo trình tiếng Hàn Quốc đầu tiên. Nó có nội dung chính là giới thiệu về cách sử dụng tiếng Hàn, chính xác hơn là cuốn sách dạy về bảng chữ cái tiếng Hàn (nguyên âm, phụ âm) và cách thành lập từ. Nhưng có một điều đặc biệt là cuốn sách không chỉ có phần bảng chữ cái mà còn có cả các giải thích tỉ mỉ cho việc thành lập bảng chữ cái đó. Trong các giải thích chứa rất nhiều nội dung có tính chất triết học, đặc biệt là triết học Dịch. Dựa vào các lý thuyết về âm dương, ngũ hành để áp dụng vào ngôn ngữ là một sáng tạo khá đặc biệt và độc đáo. Chính vì vậy mà bảng chữ cái của vua Se-Jong đại đế đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thế giới (Memory of the World) năm 1977.


   Dựa vào cuốn sách 『Huấn dân chính âm』, chúng tôi viết cuốn sách này với mục đích chính là giới thiệu bảng chữ cái tiếng Hàn với đầy đủ ý nghĩa của nó và cũng thử tiếp cận với một cách học tiếng Hàn khác so với cách học tiếng Hàn như truyền thống. Cuốn sách này cũng có thể được coi là cuốn giải thích cho 『Huấn dân chính âm』. Đối với người học tiếng Hàn, thông qua cuốn sách này có thể học được cách phát âm, cách viết tiếng Hàn. Còn với những ai quan tâm tới triết học, đặc biệt là triết học Dịch cũng sẽ tìm được những nội dung về "Dịch học" trong cuốn sách. Chúng ta hãy đi vào nội dung thứ nhất.


2. Phần nội dung chính

2.1. Cuốn sách "Huấn dân chính âm"


   Trước khi vua Se-Jong đại đế sáng tạo ra HanGul thì người Hàn Quốc đã sử dụng chữ Hán. Khi đó, lời nói và những suy nghĩ của người dân Hàn Quốc dù có hoàn toàn khác với người Trung Quốc nhưng lại không có một công cụ ngôn ngữ nào để biểu đạt. Cũng giống trường hợp chữ Nôm của Việt Nam, Hàn Quốc cũng đã dùng chữ    I Tu và Hyang Chal là kiểu chữ viết mượn chữ Hán để ký tự hóa. Tuy vậy hai kiểu chữ này có rất nhiều hạn chế và không thể biểu đạt được tình cảm hay suy nghĩ của dân tộc Hàn.


   Cuốn sách 『Huấn dân chính âm』 được phát hiện năm 1940. Trước khi đó thì có rất nhiều các ý kiến trái ngược nhau về nguồn gốc tiếng Hàn. Nhưng sau khi cuốn sách được tìm thấy thì chỉ có một đáp án duy nhất. Tiếng Hàn là ngôn ngữ dùng các ký tự tượng hình biểu đạt cơ quan phát âm, trời, đất và con người.

   Cuốn sách gồm hai phần chính. “예의” (ví dụ) và “해례” (giải thích). Phần “예의” là phần do chính vua Se-Jong đại đế viết. Phần “해례” do tám vị học giả, đứng đầu là Jong In Ji, viết dưới tên của vua Se-Jong.


   Phần đầu do Se-Jong đại đế viết là phần giải thích về mục đích sáng tạo ra chữ viết HanGul. Người cũng giải thích việc ký tự hóa âm thanh phát ra khi nói và giải thích lý do của việc tạo ra các âm đầu và âm cuối (ví dụ: 김 - âm đầu khi phát âm được ký tự là ㄱ, âm cuối là ㅁ). Vì là hệ ký tự chữ viết mới nên người đã dùng các ví dụ bằng chữ Hán để giải thích. Khi lấy ví dụ minh họa cho âm đầu và âm cuối, người rất chú ý tới việc viết đồng thời cả chữ Hán và chữ HanGul và còn giải thích thêm để người học hiểu được dễ dàng hơn. Sau đó người đề cập tới việc sử dụng âm cuối bằng ngay chính các âm đầu.


   “해례” là phần gồm phần giải thích về nguyên lý sáng tạo chữ viết; phần giải thích về âm đầu, âm giữa, âm cuối; phương pháp kết hợp ba âm đầu, giữa, cuối để tạo từ; phần về các phương pháp kết hợp từng ký tự với nhau tạo từ và phần do học giả Jong In Ji viết. “해” ở đây có nghĩa là những giải thích hay phân tích về một nguyên lý nào đó còn “례” có nghĩa là các ví dụ minh họa.


   Phần mà chúng ta sẽ xem xét là phần đầu tiên trong “해례”. Đây là phần giải thích về cách tạo các ký hiệu chữ viết và nguyên lý sáng tạo của nó. Bởi trong phần này có cả các nội dung về triết học nên vừa là phần khó nhất, cũng là phần quan trọng nhất trong cuốn 『Huấn dân chính âm』.



2.2. Nguyên lý thống nhất.


天地之道 一陰陽五行而已 坤復之間爲太極 而動靜之後爲陰陽 凡有生類在天地之間者 捨陰陽而何之  故人之聲音 皆有陰陽之理 顧人不察耳 今正音之作 初非智營而力索 但因其聲音而極其理而已 理旣不二 則何得不與天地鬼神同其用也. 


  (Đạo của trời và đất không gì khác chính là thái cực, âm dương và ngũ hành. Trước âm dương, ngũ hành là thái cực. Thái cực vận động liên hồi, động rồi tĩnh, tĩnh rồi động, sau đó trở về âm dương. Thái cực tĩnh là thể thống nhất, động thể hiện thành âm và dương. Vạn vật sống trong trời đất không thể thoát khỏi quy luật âm dương này. Chính vì vậy mà tiếng nói của con người cũng nằm trong quy luật âm dương đó. Chỉ có điều là con người ta cứ đương nhiên sử dụng mà không nhận thức được quy luật này trong lời nói mà thôi. Việc tạo ra âm chuẩn không phải là trí tuệ của những người bình thường. Chính những người làm ra "âm chuẩn" này là người phát hiện và ghi lại cái quy luật nằm trong tiếng nói. Đạo của trời đất không thể có hai thế nên trời, đất, người và quỷ thần trong trời đất này đều thông hiểu và dùng "âm chuẩn" đó)


   Như chúng ta thấy, quy luật lớn có tính chất triết học chính là những nguyên lý về âm dương, ngũ hành bao hàm trong "Dịch". Cái có trước và tồn tại trước âm, dương, ngũ hành là "thái cực". Những quy luật này quy về như nhất. Chính vì vậy mà cả trời, cả đất, cả quỷ thần cùng áp dụng nó chứ không phải chỉ giành cho con người. Nó là quy luật được áp dụng cho vạn vật.


   Khôn, phục là hai quẻ trong dịch. Quẻ khôn là quẻ thuần âm, biểu hiện cho đạo của đất. Khi ở quẻ thuần âm xuất hiện một dương ở dưới thì quẻ đó được gọi là quẻ phục. Sự vận động biến đổi từ quẻ này sang quẻ kia được "Chính âm" giải thích là thái cực. Khi cái thuần âm đạt đến cực độ và xuất hiện một vạch dương thì nó là dấu hiệu của dòng chảy thời gian tuần hoàn.

   Cụ thể như ta thấy trong các quẻ Bạc, Khôn và Phục: Quẻ Bạc là quẻ có vạch trên cùng là vạch dương, Khôn là quẻ thuần âm - tức chỉ có các vạch âm, Phục là quẻ có vạch dưới cùng là vạch dương. Bởi quẻ Khôn, cũng như quẻ Càn là hai quẻ cơ bản, như cánh cửa của Chu dịch nên hai quẻ này cố định, không bị tác động mà tác động vào các quẻ khác. Như vậy, khi có sự thay đổi từ quẻ Bạc có vạch dương trên cùng thành quẻ Khôn có toàn vạch âm, tiếp đó thành quẻ Phục có một vạch dương ở bên dưới được coi như sự thể hiện nguyên lý ra bên ngoài. Cái ta nhìn thấy là cái khi quẻ Bạc đã biến thành quẻ Phục còn cái vận động cho sự thay đổi đó lại không nhìn thấy được và nó được gọi là thái cực.

  

   Đây là nguyên lý vận động theo thời gian và được thể hiện, "lộ" ra trong không gian. Có thể coi quẻ Khôn như hạt giống được chôn dưới đất, quẻ Bạc như hạt giống ở trạng thái rơi xuống. Vậy quẻ Phục chính là những mầm non mọc ra từ hạt giống đó. Quá trình phát triển của hạt giống được hình dung như sau: hạt giống rơi từ trên cây xuống (quẻ Bạc), sau một thời gian tự vận động phát triển trong đất (quẻ Khôn) thì từ hạt ban đầu bắt đầu xuất hiện mầm non (quẻ Phục). Về mặt không gian thì ta chỉ thấy hạt giống khi rơi xuống đất và khi mầm non nhú lộ ra khỏi mặt đất. Còn sự biến đổi của hạt giống diễn ra trong đất là quá trình mà mắt ta không nhìn thấy được. 

   Nếu giải thích bằng một cách khác thì có thể nói quẻ Khôn là cái biểu hiện sự kết thúc và quẻ Phục là cái thể hiện cho sự bắt đầu. Quẻ Phục là hình ảnh khi trời đất tràn đầy sinh khí và sự vật, như mầm xanh mùa xuân đang ở tư thế sẵn sàng lớn lên. Chính vì vậy mà quẻ Phục là quẻ tạo mối liên quan với đông chí trong 24 tiết trời.  Trời, ở trên, tượng trưng cho tính dương nên cái dương có xu hướng hướng lên trên. Ngược lại, đất ở dưới, tượng trưng cho âm nên âm có xu hướng hướng  xuống dưới. Đi từ trên xuống dưới cùng là quẻ Khôn, từ dưới hướng lên trên là quẻ Phục. Qua đây ta thấy được nguyên lý cơ bản trong Chu dịch: cùng tắc biến, biến tắc thông - cái cùng cực sẽ tạo ra sự biến đổi, sự biến đổi từ đó mà thông hay tạo ra cái mới. Cũng như ý trong câu nói "hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai", khi tưởng chừng đi đến cùng cực thì một con đường mới, một cánh cửa mới lại mở ra. "Chung tắc hữu thủy" - sự kết thúc của cái này tất yếu là khởi đầu cho một cái khác. Sự vận động hay quá trình biến đổi từ cái kết thúc làm xuất hiện cái mở đầu được gọi là thái cực. Đó là nguyên lý của sự kết thúc-bắt đầu.


   Chu dịch lấy sự vận động của thời gian làm nền tảng nhưng cũng đề cập nhiều tới sự phát triển nhìn theo góc độ không gian trong thời gian. Đây là điểm khác so với quan niệm về thời gian trong triết học dịch truyền thống Hàn Quốc. Triết học dịch về thời gian của Hàn Quốc được thể hiện trong phần nguyên lý chính của 『Huấn dân chính âm』. Thái cực được thể hiện bằng âm, dương khi nói đến trời, bằng "cương nhu" - cái mạnh mẽ và mềm mại khi nói tới đất và bằng "nhân nghĩa" - tình yêu ấm áp của người nữ, người mẹ và tình cảm lạnh lùng của người nam, người bố khi nói tới người. Tất cả các hiện tượng trong nhân gian đều được phân làm hai, âm và dương. Những thứ bị tác động bởi sự phân đôi, khi lặp đi lặp lại sinh ra tứ tượng (bốn biểu tượng khi so sánh: cái âm hơn âm; cái dương hơn âm; cái dương hơn dương và cái âm hơn dương). Biểu thị cho sự hợp nhất của tứ tượng được gọi là ngũ hành.

   

   Các quẻ trong dịch đều được đánh dấu bằng các nét âm, dương và đều chứa triết lý âm dương trong đó. Việc diễn giải triết lý âm dương trong hai quẻ "Thiên địa bĩ quẻ" (天地否卦) và "Địa thiên thái quẻ" (地天泰卦) rất phù hợp với triết lý âm dương trong Huấn dân chính âm.

   Quẻ Bĩ là quẻ có ba vạch âm ở dưới và ba vạch dương ở trên. Quẻ Thái là quẻ có ba vạch âm ở trên còn ba vạch dương ở dưới. Trong quẻ Bĩ, do âm ở dưới nặng nên cứ đi xuống, dương ở trên nhẹ nên cứ đi lên. Âm dương phải gặp nhau và hòa hợp thì vạn vật mới tốt tươi nhưng vì xu thế cả hai bên đều cố chấp ở nguyên vị trí của mình làm cho mọi việc trở nên bế tắc. Ngược lại với quẻ Thái thì âm có trong dương, dương có trong âm. Âm ở trên nặng mà đi xuống, dương ở dưới nhẹ mà bốc lên, từ đó mà âm dương giao hòa làm cho vạn vật được hanh thông tốt đẹp. Các đặc tính này được thể hiện trong Huấn dân chính âm. 

  『 Huấn dân chính âm 』được sáng tạo từ việc đẩy nguyên lý âm dương đến cực điểm. Bởi bảng chữ cái mà vua Se-Jong đại đế sáng tạo ra là cái được sinh ra từ cái không nhìn thấy - viết ra âm thanh. Chính vì vậy mà không chỉ có con người dùng mà còn cả qủy thần cũng hiểu bởi nó là nguyên lý của tất cả vạn vật tồn tại trong trời đất này. Theo đó thì nguyên lý cho con người cũng phải đồng nhất với đạo của vũ trụ. Những gì quan sát được trên bầu trời cũng phải phù hợp với con người. Đây là lập trường cơ bản của Dịch. Và lập trường này được gói trọn trong nguyên lý thống nhất, chính là nguyên lý sáng tạo 『Huấn dân chính âm』.   


2.3. Phụ âm

   

   Các phụ âm trong bảng chữ cái tiếng Hàn được lập nên dựa trên việc tượng hình các cơ quan phát âm của người. Nói cách khác thì các phụ âm là hình ảnh của vị trí phát ra âm thanh của các cơ quan phát thanh.

Bảng phụ âm:

 

 

 

 

 

 

 


   Từ âm ㄱ, thêm một nét để tạo thành âm ㅋ, âm được phát ra mạnh hơn so với âm sinh ra nó.

   Từ âm ㄴ thêm để tạo thành âm ㄷ. Từ âm ㄷ thêm nét để tạo thành âm ㅌ, phát âm mạnh hơn ㄷ.

   Từ ㅁ ta có thêm ㅂ, từ ㅂ thành ㅍ.

   Từ ∧  thành ㅈ, từ ㅈ thành ㅊ.

   Từ ㅇ tạo ra ㆆ, từ ㆆ tạo ra ㅎ

   Không có âm tạo thành từ ㄹ và ㅿ.


Âm ㄱ và ㄴ tượng trưng cho sự cử động của lưỡi khi phát âm .

Âm ㄱ khi phát âm thì luồng khí phát ra tập trung ở vòm họng. Gốc lưỡi nâng lên, luồng khí thoát ra theo miệng, phát ra âm vang trong vòm họng.

Âm ㄴ khi phát âm, luồng khí phát từ họng thoát ra nhẹ ở mũi cùng lúc đầu lưỡi nâng lên và hạ xuống nhanh để luồng khí thoát ra ngoài.

Âm ㅁ khi phát âm âm này hai môi chụm lại sau đó mở ra tự nhiên, còn luồng hơi thoát ra đường mũi, giống âm /m/ trong tiếng Việt nhưng phát âm nhẹ hơn.

Âm ∧ khi phát âm lưỡi không cử động, luồng hơi từ vòm họng đi ra bị chặn ở răng  và thoát ra nhanh theo kẽ răng.

Âm ㅇ tượng trưng cho âm phát ra từ cổ họng như /ng/ nhưng phát âm nhẹ hơn luồng khí thoát ra đường mũi.

Âm ㄹ khi phát âm đầu lưỡi chạm vào ngạc cứng và rung nhẹ, luồng khí thót ra miệng.

Âm △ khi hát không tạo rung trên mặt lưỡi luồng khí thoát ra nhẹ theo kẽ răng và mũi (hiện nay ở Hàn Quốc không sử dụng âm này nữa).

  

   Trong các cơ quan phát âm thì lưỡi và cổ họng chiếm vai trò quan trọng nhất. Dựa vào sự tác động của luồng khí đi qua cổ họng và sự cử động của lưỡi mà âm thanh được phát ra. Trong các chữ cái phụ âm tiếng Hàn có thể chia thành hai bộ phận. Bộ phận âm thanh phát ra ngay tại vị trí cơ quan phát âm khi lưỡi không cử động và bộ phận âm thanh phát ra khi lưỡi trực tiếp cử động trong khi các bộ phận khác không có tác động nào. Các âm ㅁ, ∧, ㅇ là những âm xuất hiện tại ngay vị trí cơ quan phát âm. Các âm ㄴ, ㄱ là những âm xuất hiện khi lưỡi cử động chặn luồng khí ra ngoài.

   Chính vì lưỡi và cổ họng là hai bộ phận quan trọng nhất trong việc phát âm nên được ví như "thủy" và "hỏa" trong ngũ hành như giải thích ở dưới đây.


   Như ta thấy, các phụ âm cùng hàng đều có sự liên kết với nhau. Sự  liên kết này không chỉ được thể hiện về mặt thêm nét mà dựa vào triết lý âm, dương ngũ hành, vua Se-Jong cũng đưa ra sự liên kết của năm âm cơ bản như sau: ㄱ tượng trưng cho mộc - cây. Âm ㄱ  là hình mô phỏng vị trí đuôi lưỡi chặn cổ họng giống như rễ cây. Âm thanh mà ta nghe thấy cũng giống như hình ảnh cây mọc ra từ nước nên cứng cáp và thẳng. ㄱ được gọi là âm vòm họng. ㄴ là hỏa - lửa. Lưỡi sắc và linh hoạt không khác gì lửa. ㄴ được gọi là âm lưỡi. ㅁ là thổ -  đất. Đất được ví như hình vuông (giống như trong chuyện Bánh chưng bánh dày). Âm thanh phát ra nhẹ, đằm giống như tính chất của đất. ㅁ được đặt tên là âm môi. ∧ là kim - kim loại. Ta có thể tưởng tượng được hình răng sắc, nhọn, có thể cắt được vật khác. Âm thanh phát ra cũng như âm thanh của kim loại cọ sát vào nhau. ∧ được đặt tên là âm răng. ㅇ là hành thủy - nước. ㅇ tượng trưng cho cổ họng. Cổ họng dài, sâu, là nguồn của âm thanh phát ra nên được ví như nước. Âm thanh phát ra trống như đi qua một hành lang dài mà không bị cản trở bởi vật gì. ㅇ được gọi là âm cổ họng.  


   Ở đây thì "Huấn dân chính âm" cũng được giải thích là vừa có ý nghĩa về phương diện thời gian vừa có ý nghĩa về phương diện không gian theo mô hình "ngũ phương". Mặc dù được chia thành ‘âm vòm họng→ âm lưỡi→ âm môi→ âm răng→ âm cổ họng’  theo nguyên tắc của ngôn ngữ nhưng khi đối chiếu vào thứ tự cơ quan phát âm và ngũ hành thì thứ tự sẽ phải là ‘cổ họng→vòm họng→lưỡi→răng→môi’. Đây không phải là thứ tự theo tương sinh (相生) hay tương khắc (相剋) trong ngũ hành. Đây là thứ tự được sắp xếp dựa vào triết lý thời gian về sự kết thúc và khởi đầu. Nếu lấy mùa xuân làm điểm khởi đầu thì mùa đông là điểm kết thúc nhưng trước mùa xuân là mùa đông nên thứ tự sắp xếp phải là đông-xuân-hạ-thu-đông-quý hạ. Quý hạ là gì? Theo ngũ hành thì quý hạ là khoảng giữa thời điểm cuối hè, đầu thu, nó được xếp nằm ở giữa bốn phương và không chỉ định một phương nào.

   Nữa là thời gian một năm không phải được bắt đầu từ mùa xuân mà từ mùa đông trước nó, giống như hạt cây được bảo vệ trong quả, chỉ đợi thời gian quả chín và hạt già mà thôi. Ở đây xuất hiện sự bắt đầu từ cái kết thúc. Ta biết khi mùa đông kết thúc thì mùa xuân sẽ đến. Cũng giống như hoa của cây, nếu hoa không rụng thì cây chẳng thể đơm quả được. Cách suy luận này hoàn toàn đối lập với cách suy luận vật chất về thời gian - thời gian không phải là tuần hoàn mà chỉ có thời gian ở tương lai và đi tới tương lai. Bởi đời sống của người phương Đông dựa chủ yếu vào thực vật nên những triết học về cả thế giới quan và nhân sinh quan đều được xây dựng từ việc quan sát thiên nhiên. Hay chính xác hơn là từ quan sát đời sống biến đổi của cây cối qua các mùa. Chính vì vậy mà đối với người phương Đông thì thời gian là tuần hoàn như hình xoắn ốc, là một dòng chảy bất tận và từ dòng chảy ấy, vạn vật sinh ra, biến đổi, phát triển và lại mất đi để có một sự khởi đầu mới.


   Thủy và hỏa trong ngũ hành được coi là hai yếu tố quan trọng nhất. Thủy được quan niệm là "sinh vật chi nguyên" (生物之源) - khởi nguồn của vạn vật, hỏa được cho là "thành vật chi dụng" (成物之用) - cái tác thành cho vật. Thủy được coi là gốc rễ,  cái sinh ra tất cả những gì được sinh ra trên nước. Ở đây ta hãy cùng phân tích khái niệm thủy và hỏa. Thủy lấy xuất phát điểm từ sự sinh nên sẽ hướng về thời gian trong tương lai, đi theo dòng chảy bắt đầu - kết thúc. Hỏa xuất phát từ sự "trưởng" nên xuất phát từ thời gian trong quá khứ và đi theo dòng chảy kết thúc - bắt đầu. Xuất phát điểm của thủy là cái nhìn thấy, cái xuất hiện ra trong không gian. Còn xuất phát điểm của hỏa là từ trước đó, từ cái không nhìn thấy có trước khi xuất hiện cái nhìn thấy. Khi nhìn vào sự vật thì có thể thấy thủy là cái căn bản ban đầu tạo ra sự vật còn hỏa là cái đã hoàn toàn sinh trưởng. Có thể coi hỏa như quả chín, được dùng từ việc người ta dùng hạt của nó để tạo ra những cây mới. Đây là biểu hiện của sự tuần hoàn thời gian. Cái cũ mất đi để từ đó cái mới được tạo thành. Cứ như vậy, liên hồi, không dứt. Âm thanh lời nói của con người cũng không nằm ngoài quy luật này nên nó không nằm ngoài tứ thời (四時) và cũng hoàn toàn khớp với ngũ âm (五音).

   Các âm đầu không chỉ có sự liên kết về mặt tượng hình cách phát âm một cách đơn giản và chân thực nhất mà chúng còn liên kết với nhau về mặt âm học một cách logic và khoa học. Chỉ cần nhìn vào các ký tự được quy định chữ cái, người ta có thể biết ngay được cách phát âm ký tự đó. Và ngược lại,  chỉ cần nghe được các âm thanh phát ra này, người ta có thể viết ra những gì mình nghe thấy.


2.4. Nguyên âm

   

   Nguyên âm chính của bảng chữ cái này gồm ba âm chính là âm ".", âm "ㅡ", và âm "ㅣ".

   Âm "." được giải thích là trời, là dương khí, là bố. Có thể thấy, dấu '.' là dấu khởi đầu cho tất cả mọi vật hay là cái cơ bản nhất. Dòng kẻ là tập hợp của rất nhiều dấu chấm, nét vẽ cũng bắt đầu từ dấu chấm. Chính vì vậy mà vua Se-Jong đại đế đã lấy dấu "." để tượng trưng cho "trời" - là cái căn bản nhất cho tất cả mọi vật hay là cái sản sinh ra vạn vật.   

   Khi phát âm "." ta không cần dùng bất cứ một chút sức lực nào để phát âm. Đây là âm giống âm "o" trong tiếng Việt.

   Âm "ㅡ" là đất. Đất là cái mà mắt ta có thể nhìn thấy. "ㅡ" là âm chỉ phát ra khi ta dùng sức. Có thể hình dung nó như âm thanh phát ra khi ta phải lấy hết sức mình để kéo một vật nặng quá sức. Cách phát âm tương tự như âm "ư" trong tiếng Việt.

   Âm "ㅣ" tượng trưng cho người. Người ở giữa trời và đất, có tư thế đứng thẳng. Khi phát âm, thân lưỡi ở vị trí đứng thẳng lên. Phát âm âm "ㅣ" giống như khi em bé dùng sức của mình, chu mồm ra để bú sữa mẹ. Chính vì vậy mà nó cũng là âm cơ bản được em bé phát ra để đánh dấu sự tồn tại của mình. Cách phát âm giống với âm "i" trong tiếng Việt.

    

“中聲凡十一字.ㆍ舌縮而聲深,天開於子也.形之圓,象乎天也.ㅡ舌小縮而聲不深不淺,地闢於丑也.形之平,象乎地也.ㅣ舌不縮而聲淺,人生於寅也.形之立,象乎人也.”


   Dựa vào nội dung trên, ta thấy vị trí phát âm của nguyên âm được chia làm ba: vị trí lưỡi đứng thẳng - "ㅣ", lưỡi hơi thẳng - "ㅡ" và không thẳng - ".". Chính vì vậy mà âm phát ra cũng sẽ là âm sâu - ".", âm không sâu, không nông - "ㅡ" và âm nông "ㅣ".

  

   Để lập thêm các âm tiếp theo, vua Se-Jong đại đế dùng cách thêm "." vào tất cả các âm còn lại.

   Từ ba âm cơ bản tượng trưng cho trời, đất và người âm "." được thêm vào hai âm còn lại để tạo thành bốn âm tiếp theo: ㅗ, ㅜ, ㅏ, ㅓ.


   Sau khi lập được bốn âm ㅗㅜㅏㅓ, tiếp tục thêm nét để tạo ra các âm đôi nữa.

ㅣ+ㅗ = ㅛ, ㅣ+ㅜ = ㅠ, ㅣ+ㅏ = ㅑ, ㅣ+ㅓ = ㅕ.


“此下八聲,一闔一闢.ㅗ與ㆍ同而口蹙,其形則ㆍ與ㅡ合而成,取天地初交之義也.ㅏ與ㆍ同而口張,其形則ㅣ與ㆍ合而成,取天地之用發於事物待人而成也ㅜ與ㅡ同而口蹙,其形則ㅡ與ㆍ合而成,亦取天地初交之義也.ㅓ與ㅡ同而口張,其形則ㆍ與ㅣ合而成,亦取天地之用發於事物待人而成也.ㅛ與ㅗ同而起於ㅣ.ㅑ與ㅏ同而起於ㅣ.ㅠ與ㅜ同而起於ㅣ,ㅕ與ㅓ同而起於ㅣ.ㅗㅏㅜㅓ始於天地,爲初出也.ㅛㅑㅠㅕ起於ㅣ而兼乎人,爲再出也.ㅗㅏㅜㅓ之一其圓者,取其初生之義也.ㅛㅑㅠㅕ之二其圓者,取其再生之義也.ㅗㅏㅛㅑ之圓居上與外者,以其出於天而爲陽也.ㅜㅓㅠㅕ之圓居下與內者,以其出於地而爲陰也.ㆍ之貫於八聲者,猶陽之統陰而周流萬物也.ㅛㅑㅠㅕ之皆兼乎人者,以人爲萬物之靈而能參兩儀也.取象於天地人而三才之道備矣.然三才爲萬物之先,而天又爲三才之始,猶ㆍㅡㅣ三字爲八聲之首,而ㆍ又爲三字之冠也.”


   Ba âm ". ㅡ ㅣ" được giải thích là mối quan hệ giữa trời, đất và người. Các âm này sau khi tạo thành các âm "ㅗ, ㅏ, ㅜ, ㅓ’, ‘ㅛ, ㅑ, ㅠ, ㅕ" cũng đều được giải thích bằng mối quan hệ trên, mối quan hệ trời-đất-người. Không chỉ vậy nó còn áp dụng nguyên tắc phân đôi (兩之作用) trong Dịch. Ở đây sự phân đôi được thực hiện như sau: Từ âm đầu tiên "." tạo ra hai âm tiếp theo là "ㅣ" và "ㅡ", trời tiếp tục hợp đức với người và đất - ". +ㅣ", ". + ㅡ" để thực hiện việc phân đôi, tạo ra  "ㅏ,ㅓ,ㅑ,ㅕ, ㅗ,ㅜ,ㅛ,ㅠ". Chính vì vậy mà trong các âm được tạo thành từ ba âm cơ bản đều có chứa yếu tố "." tượng trưng cho ý chí của trời. "Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái", ấy chính là quy tắc lập ra các nguyên âm này.


   “ㅗ初生於天,天一生水之位也.ㅏ次之,天三生木之位也.ㅜ初生於地,地二生火之位也.ㅓ次之,地四生金之位也.ㅛ再生於天,天七成火之數也.ㅑ次之,天九成金之數也.ㅠ再生於地,地六成水之數也.ㅕ次之,地八成木之數也.水火未離乎氣,陰陽交合之初,故闔.木金陰陽之定質,故闢.ㆍ天五生土之位也.ㅡ地十成土之數也.ㅣ獨無位數者,盖以人則無極之眞,二五之精,妙合而凝,固未可以定位成數論也.是則中聲之中,亦自有陰陽五行方位之數也.以初聲對中聲而言之.陰陽,天道也.剛柔,地道也.中聲者,一深一淺一闔一闢,是則陰陽分而五行之氣具焉,天之用也.”


   Chữ ㅗ, được coi là "thiên nhất sinh thủy"-có nghĩa là cái xuất hiện đầu tiên trên trời. Số của "thủy" là 1 và 6. 1 là thủy sinh còn 6 là thủy thành. Chữ ㅏ là cái được sinh ra thứ hai sau đó, nó là "thiên tam sinh mộc". Số biểu thị cho "mộc" là 3 và 8. Chữ đầu tiên sinh ra từ đất là ㅜ, là "địa nhị sinh hỏa". Lửa có hai số: số 2 là số lửa sinh, số 7 là số lửa thành. Chữ sinh tiếp theo từ đất là ㅓ, "địa tứ sinh kim". Kim được quy định với hai số 4 và 9

.   

   Các chữ trên đây đều là những đứa con được sinh ra đầu tiên và đều được "số hóa" theo vị trí trong không gian. 1,2,3,4 là các số biểu trưng cho ㅗ, ㅏ, ㅜ, ㅓ. Số 1 và 3 được gọi là số trời còn 2 và 4 là số đất.

   

   Tiếp đó là các chữ tiếp theo. Chữ ㅛ là chữ được sinh ra từ trời, là "thiên thất thành hỏa". Chữ ㅑ là "thiên cửu thành kim". Chữ ㅠ là "địa lục thành thủy" và ㅕ là "địa bát thành mộc".


   Ở đây ta thấy xuất hiện khái niện số sinh (生數) và số thành (成數). Các số từ 1~4 là số sinh, từ 5~9 là số thành. "Sinh" chỉ sự sinh trưởng, phát triển còn "thành" chỉ sự lớn khôn, trưởng thành.

   Tiếp đó là phần giải thích cho số 5 và 10. "." là số 5 - "thiên ngũ sinh thổ", số 10 là "ㅡ", "địa thập sinh thổ". Số 5 là số "thiên", chỉ sự vật hoàn toàn lớn trên đất, nếu chiếu vào ngũ hành thì là "thổ" ở trung tâm. Số 10 là số hoàn hảo, số bắt đầu gửi "hạt" vào đất.

   Trong các nguyên âm thì "ㅣ" là không được áp vào với bất cứ một số và phương nào. Nhìn theo góc độ không gian thì đều theo nguyên lý của phương, nhìn theo góc độ thời gian thì theo nguyên lý của số nên không có một số hay phương cố định nào giành cho nó. Điều này cũng có nghĩa là "ㅣ" vừa phải trải qua quá trình sinh thành, phát triển như các con số lớn lên từ 1~10 và vừa có thể dịch chuyển đến các phương khác nhau. Nói cách khác, người là tồn tại vừa biết được đạo của trời, vừa biết được đạo đức của đất, vừa nhận được những tinh túy của trời đất để tự hoàn thiện bản thân mình.


   Ba âm cơ bản ". , ㅡ , ㅣ" lại được chia theo tính âm, dương. "." có tính dương nên những âm có "." đều mang tính dương, "ㅡ" có tính âm nên những âm bắt nguồn từ âm này có tính âm. Với âm "ㅣ" là người ở giữa có tính chất trung tính. Có nghĩa là nó vừa có tính âm, vừa có tính dương, khi kết hợp với các âm khác có thể trở thành âm có tính âm, cũng có thể trở thành âm có tính dương.   

   

   Sự có mặt của " . " - trời, tính dương trong tất cả các nguyên âm thể hiện rằng dương, thông qua âm để tạo ra vạn vật. Có thể hình dung tới việc người bố thông qua mẹ để thực hiện ý chí của mình. Bố không phải là người trực tiếp sinh ra người con mà chỉ có thể thông qua mẹ để thực hiện công việc này. Không có bố thì con sẽ không được hình thành nhưng nếu không có mẹ thì con cũng sẽ không được sinh ra.

   Người - "ㅣ" sau đó lại tiếp tục thực hiện công việc của mình bằng cách ghép với các nguyên âm khác tạo thành nguyên âm đôi giống như khi ta ghép âm "o" và "a" vào thành "oa" trong tiếng Việt. Có thể lấy một số ví dụ như:

ㅡ +ㅣ = ㅢ

ㅗ +ㅣ = ㅚ

ㅜ +ㅣ =ㅟ

ㅏ +ㅣ = ㅐ

ㅓ +ㅣ = ㅔ

   Các âm cứ thế tiếp tục kết hợp với nhau để tạo ra vô số các nguyên âm đôi nhằm biểu đạt các sắc thái, lời nói khác nhau.

ㅗ + ㅏ = ㅘ

ㅗ + ㅐ = ㅙ

ㅜ + ㅓ = ㅝ

ㅜ + ㅔ = ㅞ

ㅐ + ㅡ = ㅒ

ㅔ + ㅡ = ㅖ...

  Vậy ta có thể kết hợp các nguyên âm với nhau tạo ra vô số các nguyên âm đôi. Kết hợp các phụ âm trên với các nguyên âm này để cho ra rất nhiều các từ mà ta muốn. Cách tạo lập từ được giải thích như thế nào chúng ta hãy cùng chuyển sang phần tiếp theo.

   

2.5. Cách kết hợp các âm tạo từ


   Sau khi tạo được 28 âm cho bảng chữ cái tiếng Hàn là đến phần kết hợp các ký tự chữ cái tạo thành từ. Nếu xét như kiến thức ngôn ngữ hiện nay thì ta chỉ có hai loại là nguyên âm và phụ âm, còn trong "Huấn dân chính âm" thì chia thành âm đứng đầu tiên trong từ (âm đầu), âm ở giữa từ (âm giữa) và âm kết thúc từ (âm cuối).

Cách kết hợp các từ sẽ là: Âm đầu + âm giữa + âm cuối

Có các cách viết như sau:

Âm đầu: có thể ở trên hoặc ở trước nhất, bên trái

Ví dụ như các từ: 국 - âm đầu ở trên; 영 - âm đầu ở trước.

   Với các nguyên âm thì những nguyên âm đứng hay nguyên âm dọc như ㅣ, ㅓ, ㅏ... thì ở bên phải âm đầu. Các nguyên âm nằm hay có tư thế ngang như ㅡ, ㅗ, ㅜ, ㅠ...sẽ nằm bên dưới của âm đầu. Âm cuối cùng tạo thành từ bao giờ cũng ở dưới âm đầu và âm giữa như ta thấy ở từ 국 bên trên.


   Bởi không giới hạn các âm đầu nên ta có thể ghép vô hạn định các phụ âm thành phụ âm đôi, phụ âm ba hay hơn nữa như trường hợp N +G + H = NGH ta gặp trong tiếng Việt. Ví dụ cho các từ này như: ㅴ, ㄼ,ㅫ...Tương tự như vậy thì với các phụ âm làm âm cuối, ta cũng có thể ghép thành các phụ âm cuối đôi hay ba như  N+H=NH trong từ "Hành".


   Như vậy có thể thấy, với công cụ là các ký tự chữ viết này, ta có thể lập thành vô số các chữ, các từ mà ta muốn. Với việc ghi chép lại tạo thành văn bản thì chỉ cần ghép sao cho âm ta viết phù hợp với âm ta phát ra mà thôi.


   Phần giải thích quy luật về sự kết hợp âm này là phần chứa nội dung triết học Hàn Quốc nhiều nhất.


  “初聲者,或虛或實或颺或滯或重若輕,是則剛柔著而五行之質成焉,地之功也.中聲以深淺闔闢唱之於前,初聲以五音淸濁和之於後,而爲初亦爲終.亦可見萬物初生於地,復歸於地也.以初中終合成之字言之,亦有動靜互根陰陽交變之義焉.動者,天.靜者,地也.兼乎動靜者,人也.盖五行在天則神之運也,在地則質之成也,在人則仁禮信義智神之運也,肝心脾肺腎質之成也.初聲有發動之義,天之事也.終聲有止定之義,地之事也.中聲承初之生,接終之成,人之事也.盖字韻之要,在於中聲,初終合而成音.亦猶天地生成萬物,而其財成終聲復用初聲者,以其動而陽者乾也,靜而陰者亦乾也,乾實分陰陽而無不君宰也.一元之氣,周流不窮,四時之運,循環無端,故貞而復元,冬而復春.初聲之復爲終,終聲之復爲初,亦此義也.旴.正音作而天地萬物之理咸備,其神矣哉.是殆天啓聖心而假手焉者乎.”


   Mặc dù các ký hiệu được chia thành âm đầu, âm giữa, âm cuối nhưng các âm đầu cũng được sử dụng làm âm cuối. Việc âm đầu được sử dụng làm âm cuối cũng được giải thích như âm "." và sự có mặt của nó trong tất cả các nguyên âm khác hay "Lý" của trời có mặt ở khắp nơi. Nó còn có nghĩa như sự tuần hoàn của thời gian. Con người ta chỉ nhận thức được sự tồn tại và mất đi của mọi vật khi nó được hình thành và mất đi trên đất. Đó là phương thức tư duy theo không gian. Nhưng theo phương diện thời gian thì  nhờ vào sự tuần hoàn của thời gian - "thiên đức" mà vạn vật mới sinh ra, lớn lên, trưởng thành và mất đi. Quá trình này được thể hiện rõ trong "tứ thời". Mùa xuân sinh sôi, mùa hè đua nhau lớn, mùa thu trưởng thành và để chuẩn bị cho sự khởi đầu mới thì mùa đông giấu trong mình những hạt giống cho mùa xuân sau. Đấy chính là nguyên lý tuần hoàn thời gian cơ bản nhất mà ta có thể nhìn thấy qua quá trình phát triển của cây cối trong năm. 

   Cuối cùng là chỉ có hai loại âm như ta chia ra thành phụ âm và nguyên âm. Phụ âm có tính dương, nguyên âm có tính âm. Phụ âm cứng, thô như người bố, nguyên âm mềm mại và nhẹ nhàng như người mẹ. Ngay trong bản thân phụ âm, khi phát âm cũng phải có nguyên âm trong nó.

   Trong bảng chữ cái tiếng Hàn cũng vậy. Phụ âm hay các âm đầu có tính dương của trời, nguyên âm hay các âm giữa có tính âm của đất. Khi kết hợp với nhau để tạo thành từ thì phụ âm, đem đạo của trời truyền cho nguyên âm có đức của đất mẹ để tạo ra cái mới là từ. Sự gặp gỡ, kết hợp của âm đầu và âm giữa cũng giống như sự kết hợp của người bố và người mẹ. Người bố biết được ước muốn của mẹ, mang ý trí của mình gieo mầm vào người mẹ để sinh ra đứa con khỏe mạnh. Bởi bố là trời nên ý chí của bố chỉ được thể hiện thông qua đất là mẹ. Và chỉ khi thông qua người mẹ thì ta mới có thể thấy được sự hình thành của người con. Nhưng thực chất thì người con đã được hình thành từ trước đó, chỉ khi người mẹ sinh hạ người ta mới nhìn thấy người con mà thôi. Ý nghĩa của câu nói "cha sinh mẹ dưỡng" cũng là như vậy. Phụ âm khi đứng một mình không có nghĩa, chỉ khi kết hợp với nguyên âm tạo ra âm mới thì ý nghĩa của phụ âm mới được thể hiện ra qua từ. 

   Như vậy, phụ âm - mặc dù là trời, có địa vị cao nhất thì cũng hạ mình để biết được ý của đất, nguyên âm - mang đầy đủ đức của đất, cố gắng để thực hiện ý chí của trời. Điều này được giải thích giống như quẻ Bĩ và quẻ Thái trong Dịch. Trong quẻ Bĩ, âm ở dưới, dương ở trên. Âm dương ở nguyên vị trí của mình nên không hề có sự kết hợp và vì vậy cũng không tạo ra cái mới. Ngược lại trong quẻ Thái thì âm ở trên, dương ở dưới. Âm đi xuống, dương đi lên, âm dương có sự giao hòa, kết hợp, thế mới tạo ra cái mới. Nếu lấy ví dụ trong quan hệ giữa người với người thì tôi đặt mình vào vị trí của anh để hiểu anh, anh đặt mình vào vị trí của tôi để hiểu tôi. Có như vậy, tôi và anh mới cùng hiểu nhau và hai người mới có thể làm bạn được. 

   Ý nghĩa của sự kết hợp này không chỉ đơn thuần là phụ âm, nguyên âm gặp nhau để tạo thành từ mới. Thông qua đây ta còn thấy được câu chuyện về tình yêu, về tình người trong nhân gian.

3. Kết luận:


   Nếu nói ngôn ngữ là sáng tạo độc đáo và vĩ đại nhất của con người thì văn tự hay chữ viết chính là sáng tạo vĩ đại thứ hai.

   Nhìn lại lịch sử phát triển của chữ viết ta thấy, bắt đầu từ chữ tượng hình, người ta biểu đạt ý để trở thành chữ biểu ý. Sau đó là chữ âm tiết và cuối cùng là chữ biểu âm. Cứ mỗi một kiểu chữ viết đều là những sáng tạo đặc biệt và xuất sắc của nhân loại. Qua 6000 năm qua thì từ những kiểu chữ tượng hình cho đến kiểu chữ biểu âm đều là những sáng tạo hết sức khoa học.

   Từ việc nhìn thấy sự vật, "vẽ" hay mô phỏng lại nó để tạo ra chữ tượng hình đến việc viết, ghi lại âm thanh là việc làm khoa học và khó khăn hơn rất nhiều. Bởi để biểu đạt được sự vật bằng chữ tượng hình, người ta cần rất nhiều ký tự chữ viết. Nhưng với chữ biểu âm thì số ký tự không cần nhiều đến vậy.

   

   Nền văn minh và văn hóa mà con người đạt được đều là những thành quả tích lũy trí tuệ của các thế hệ người. Và phần lớn công việc tích lũy ấy đều do chữ viết đảm nhận. Mặc dù từ trước khi có chữ viết, con người vẫn luôn tích lũy thông tin thông qua phương pháp truyền miệng nhưng do hạn chế về cả không gian và thời gian nên có thể rơi vào tình trạng "tam sao thất bản".

   Một vấn đề nữa cần bàn tới là một nhiệm vụ mà chữ viết đảm nhận khác là chữ viết làm cho văn hóa được bảo tồn và phát triển, bản thân nó cũng là di sản văn hóa. Hiện nay, các nhà ngôn ngữ học phân ngôn ngữ và chữ viết tách biệt với nhau nên không "nếm xỉa" gì đến ảnh hưởng của chữ viết lên ngôn ngữ và ngược lại. Nhưng dù được coi là hai phương tiện biểu đạt độc lập với nhau thì ngôn ngữ và chữ viết lại có quan hệ bổ trợ cho nhau. Bởi một bên là những gì đạt được qua thính giác, một bên là từ thị giác.

   Mặc dù có quan hệ với nhau như vậy nhưng lời nói và chữ viết là hai thực thể tách biệt nhau. Trước khi có chữ viết thì đã có lời nói hay chính xác là âm thanh. Những giao tiếp hàng ngày của con người thông qua lời nói biến đổi từ chỗ bạo lực tới hòa bình. Ở đây xã hội bạo lực được nhắc đến là xã hội động vật. Thông qua lời nói, thay vì dùng bạo lực, người ta có thể lựa chọn cách "đối thoại" với nhau để giải quyết các vấn đề. Nhờ vậy, con người vốn yếu đuối về thể chất so với loài động vật thì thông qua đối thoại đã dần tạo nên một xã hội mạnh mẽ hơn. Đây là lý do vì sao mà loài người từ loài yếu đuối trở thành loài thống trị và tự do trên trái đất này.

   Tuy nhiên, "đối thoại" phải trải qua quá trình người nghe "tiếp nhận" âm thanh của người nói.

   Vì là sự giao tiếp giữa người với người nên người nói và người nghe phải ở trong cùng một không gian. Và người nghe đó, lại nói lại cho người nghe khác vào một thời điểm khác nên cần phụ thuộc vào ký ức. Tuy vậy việc "nhớ" không hề đơn giản. Trí nhớ đi liền với sự lãng quên. Và dựa vào trí nhớ của cá nhân thì khả năng sự thật bị "bóp méo" là rất lớn. Để giải quyết được vấn đề này thì phải làm sao nhìn thấy được lời nói. Và lời nói có thể làm cho người ta nhìn thấy được chính nó. Đây là việc làm vượt qua mặt kỹ năng giao tiếp thông thường. Rất nhiều những "ký ức" và lời nói có thể được ghi lại hợp lí. Và truyền lại cho hậu thế thì người ta có thể tái hiện lại tất cả ở một thời gian xa.

   Với ngôn ngữ dựa vào việc ký hiệu sự vật ngày càng tạo ra trở ngại cho việc ghi lại tư duy của con người. Bởi càng phải dùng thêm nhiều cách "đặt tên" sự vật hay càng ngày càng có nhiều tiếng chuyên ngành được tạo ra. Với người học thì tiếng chuyên ngành là trở ngại lớn nhất cho việc tiếp nhận kiến thức. Bởi thêm một lần nữa phải học lý thuyết về chữ viết đó. Ví dụ như khi học về kiến trúc, bạn buộc phải học các ngôn ngữ chuyên ngành đó trước khi tiếp cận với kiến thức chuyên ngành kiến trúc. Nếu không làm như vậy, bạn khó có thể hiểu được người ta nói gì, viết gì. Chính vì điều này mà ngôn ngữ càng phải tìm cho mình một hướng đi mới. Đó là ngôn ngữ biểu âm. Những vấn đề phức tạo dần được giải quyết bởi người ta chỉ cần ghi lại những gì mình nghe thấy. Điều này giúp mở ra triển vọng cho một nền giáo dục đại chúng rộng lớn cho tất cả mọi người. 

    

   Với những nội dung như trên thì ta thấy, bảng chữ cái tiếng Hàn không chỉ là bảng chữ cái với các ký hiệu đơn thuần. Thứ nhất nó là bảng chữ cái được coi là phản án đúng những âm phát ra từ người hay đã ký tự hóa một cách rõ nét nhất âm thanh người phát ra. Nó có thể được dùng làm công cụ để ghi lại bất cứ một ngôn ngữ hay chính xác hơn là bất cứ một âm thanh mà người ta nghe được. Thứ hai, nó thấm đượm tinh thần triết học Hàn Quốc thông qua quá trình giải thích sự hình thành và kết hợp từng ký hiệu một. Bảng chữ cái tiếng Hàn là một sáng tạo độc đáo về cả mặt ngữ âm học và cả việc ký hiệu hóa âm thanh để tạo ra ký tự ghi lại lời nói